1. Tăng trưởng kinh tế và các cân đối vĩ mô
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2024 sơ bộ tăng 7,09% so với năm trước. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,27%, đóng góp 5,37% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,24%, đóng góp 45,17%; khu vực dịch vụ tăng 7,38%, đóng góp 49,46%.
Về sử dụng GDP năm 2024, tiêu dùng cuối cùng sơ bộ tăng 6,57% so với năm 2023, đóng góp 66,03% vào tốc độ tăng chung của nền kinh tế; tích lũy tài sản tăng 7,20%, đóng góp 40,66%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 15,47%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,12%.
Kết quả hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện rõ vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, không chỉ bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, mà còn khẳng định vị trí là nước xuất khẩu nông sản hàng đầu, đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực.
Ngành công nghiệp phục hồi tích cực và tăng trưởng mạnh mẽ so với năm 2023. Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp năm 2024 sơ bộ tăng 8,24%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 9,83%, đóng góp 2,49 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.
Các hoạt động thương mại, du lịch duy trì đà tăng trưởng cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ sơ bộ tăng 7,38% so với năm trước. Một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như: Hoạt động vận tải kho bãi tăng 10,82%, đóng góp 0,68 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,76%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm; bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 7,96%, đóng góp 0,80 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,11%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 5,77%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm.
Chất lượng tăng trưởng và hiệu quả kinh tế: – GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành luôn đạt mức năm sau cao hơn năm trước. Năm 2024, GDP bình quân đầu người sơ bộ đạt 4.700 USD/người, tăng 376 USD so với năm 2023. Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2024 đạt 11.511,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 476,3 tỷ USD (năm 2023 đạt 10.320 nghìn tỷ đồng, tương đương 433,7 tỷ USD), đứng thứ 4 trong khu
vực ASEAN và thứ 34 trên thế giới.
– Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2024 sơ bộ đạt 222,0 triệu đồng/lao động, tương đương 9.184 USD/lao động, tăng 728 USD so với năm 2023 (8.456 USD/lao động); theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2024 tăng 5,91% so với năm trước do trình độ của người lao động tiếp tục được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2024 ước đạt 28,4%, cao hơn 1,2 điểm phần trăm so với năm 2023).
– Hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2024 đã có nhiều khởi sắc khi nền kinh tế thế giới đang trên đà hồi phục. Năm 2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 786,9 tỷ USD, tăng 15,5% so với năm
trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 405,9 tỷ USD, tăng 14,4%; kim ngạch nhập khẩu đạt 381,0 tỷ USD, tăng 16,7%.
– Về cơ cấu GDP năm 2024 theo phương pháp sử dụng, tiêu dùng cuối cùng chiếm 62,75%; tích lũy tài sản chiếm 30,56%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ chiếm 6,45%; sai số ở mức 0,24% (cơ cấu tương ứng của năm 2023 là 63,16%; 31,64%; 8,12% và sai số ở mức -2,92%).
2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Năm 2024, kinh tế thế giới có nhiều khởi sắc, thương mại toàn cầu từng bước phục hồi, tác động tích cực đến kết quả hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam. Năm 2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 786,9 tỷ USD, tăng 15,5% so với năm trước. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 405,9 tỷ USD, tăng 14,4% so với năm 2023, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 114,9 tỷ USD, tăng 20,1%, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 291 tỷ USD, tăng 12,3%, chiếm 71,7%.
Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhất 88,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, sơ bộ đạt 357,7 tỷ USD, tăng 14,4% so với năm trước. Mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn trong năm 2024 là điện tử, máy tính và linh kiện đạt 72,6 tỷ USD, tăng 26,7%. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2024 sơ bộ đạt 381,0 tỷ USD, tăng 16,7% so với năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 140,2 tỷ USD, tăng 19,3%, chiếm 36,8% tổng kim ngạch nhập khẩu; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 240,8 tỷ USD, tăng 15,2%, chiếm 63,2%.
Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng lớn nhất 88,9% tổng kim ngạch nhập khẩu, sơ bộ đạt 338,9 tỷ USD, tăng 16,1% so với năm trước. Mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn trong
năm 2024 là hàng điện tử, máy tính và linh kiện sơ bộ đạt 107,1 tỷ USD, tăng 21,7%.
Cán cân thương mại hàng hóa năm 2024 sơ bộ xuất siêu 24,9 tỷ USD, thấp hơn mức xuất siêu năm 2023 (28,1 tỷ USD). Xuất siêu giảm do nhập khẩu tăng mạnh hơn so với xuất khẩu, cho thấy những tín hiệu tích cực của tình hình sản xuất hàng hóa trong nước phục vụ xuất khẩu.
3. Đầu tư
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2024 tăng 7,5% so với năm trước, cao hơn mức tăng 6,6% của năm 2023 nhưng thấp hơn mức tăng 11,3% của năm 2022. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam sơ bộ tăng 9,4% so với năm 2023, đạt gần 25,4 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2024 theo giá hiện hành sơ bộ đạt 3.692,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5% so với năm trước, bao gồm: Vốn của khu vực Nhà nước đạt 1.019,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,6% tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội, tăng 5,3%; vốn của khu vực ngoài Nhà nước đạt 2.064,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 55,9%, tăng 7,7%; vốn của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 608,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,5%, tăng 10,6%.
Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2024 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,23 tỷ USD, giảm 3,0% so với năm 2023. Trong đó có 3.375 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt gần 19,73 tỷ USD, tăng 1,8% về số dự án và giảm 7,6% về số vốn đăng ký so với năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2024 sơ bộ đạt 25,35 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm trước, là mức thực hiện cao nhất từ trước đến nay.
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm 2024 có 164 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới với tổng số vốn đăng ký của phía Việt Nam đạt 603,7 triệu USD, gấp hơn hai lần so với năm trước; có 25 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm đạt 118,1 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 721,8 triệu USD, tăng 70,8% so với năm trước.
4. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán
Trong năm 2024, các tổ chức tín dụng tiếp tục triển khai chính sách tín dụng theo hướng an toàn, hiệu quả, góp phần ổn định thị trường tài chính – tiền tệ. Mặt bằng lãi suất huy động được duy trì hợp lý, lãi suất cho vay tiếp
tục xu hướng giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dântiếp cận vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, thị trường bảo hiểm dù đối mặt với áp lực điều chỉnh sau các giai đoạn tăng trưởng nóng và biến động kinh tế toàn cầu, nhưng vẫn ghi nhận những kết quả tích cực, từng bước củng cố niềm tin của người tham gia và nâng cao chất lượng dịch vụ. Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu tăng 20,8% so với cuối năm 2023.
Tại thời điểm 31/12/2024, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,0% so với cuối năm 2023 (cùng thời điểm năm 2023 tăng 12,5%); trong đó huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 11,7% (cùng thời điểm năm 2023 tăng
13,2%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 15,1% (cùng thời điểm năm 2023 tăng 13,8%).
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, đồng thời chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí hoạt động để giảm lãi suất cho vay, nhờ đó mặt bằng lãi suất cho vay đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại (NHTM) có xu hướng giảm trong năm 2024, góp phần kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Lãi suất cho vay bình quân bằng đồng Việt Nam của NHTM đối với các khoản vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 6,7-9,0%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,8%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4%/năm).
Năm 2023, cả nước có 18.418,1 nghìn người tham gia Bảo hiểm xã hội, tăng 5,2% so với năm 2022; 93.628,2 nghìn người tham gia Bảo hiểm y tế, tăng 2,8% và 14.791,2 nghìn người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp, tăng 3,2%. Tổng số thu bảo hiểm năm 2023 đạt 567,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,2% so với năm 2022; tổng số chi bảo hiểm đạt 454,2 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9%, trong đó chi trả bảo hiểm y tế đạt 125,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,7%; chi trả bảo hiểm thất nghiệp đạt 23,5 nghìn tỷ đồng, tăng 15,4%.
Năm 2024, thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động ổn định, có sự tăng trưởng và ghi nhận những kết quả nổi bật mặc dù chịu áp lực lớn từ tình hình kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán quốc tế. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu năm 2024 đạt 7.173,3 nghìn tỷ đồng, tăng 20,8% so với năm 2023.
5. Chỉ số giá, lạm phát
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2024 tăng 3,63% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra. Lạm phát đã được kiểm soát vượt mục tiêu Quốc hội giao từ đầu năm, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, là điểm sáng trong kết quả phát triển kinh tế của Việt Nam năm 2024. CPI bình quân năm 2024 tăng 3,63% so với năm 2023, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra. Để đạt được thành công này, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chủ động, quyết liệt, sát sao chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai
đồng bộ nhiều giải pháp điều hành phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Do đó, giá hàng hóa và dịch vụ trên thị trường nhìn chung không có biến động bất thường, lạm phát trong tầm kiểm soát. Lạm phát cơ bản năm 2024 tăng 2,71% so với năm 2023, thấp hơn mức tăng CPI bình quân chung (3,63%), chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
6. Số lượt người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam
Năm 2024, chính sách thị thực thuận lợi, các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch được đẩy mạnh cùng với những giải thưởng du lịch danh giá được các tổ chức quốc tế trao tặng đã thu hút khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng cao, với gần 17,6 triệu lượt khách, tăng 39,5% so với năm 2023.
Năm 2024, số lượt người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam đạt 17.583,9 nghìn lượt người, tăng 39,5% so với năm 2023, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 14.844,1 nghìn lượt người, chiếm 84,4% số lượt người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, tăng 35,6% so với năm trước; bằng đường bộ đạt 2.491,7 nghìn lượt người, chiếm 14,2% và tăng 63,3%; bằng đường thủy đạt 248,1 nghìn lượt người, chiếm 1,4% và tăng 96,7%. Xét theo vùng, lãnh thổ, khách đến từ châu Á đạt 13.997,0 nghìn lượt người, tăng 43,1% so với năm trước; khách đến từ châu Âu đạt 1.995,7 nghìn lượt người, tăng 36,8%; khách đến từ châu Mỹ đạt 1.000,1 nghìn lượt người, tăng 10,7%; khách đến từ châu Úc đạt 540,2 nghìn lượt người, tăng 26,2%; khách đến từ châu Phi đạt 50,9 nghìn lượt người, tăng 69,1%.
