1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
GDP năm 2025 tăng trưởng khá với mức tăng ước đạt 8,02% so với năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%.
– Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, mặc dù chịu tác động bất lợi từ bão, mưa lũ, nhưng nhờ triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai nên sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì ở mức ổn định. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp năm 2025 ước tăng 3,48% so với năm trước, đóng góp 3,59% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 5,70% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,38%; ngành thủy sản tăng 4,41%, đóng góp 1,33%.
– Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2025 ước tăng 8,80% so với năm trước, đóng góp 35,15% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97%, là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2019-2025, tiếp tục là động lực tăng trưởng kinh tế, đóng góp 31,49%. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,82%, đóng góp 0,60%. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,39%, đóng góp 2,94%. Ngành khai khoáng tăng 0,42%, đóng góp 0,13%. Ngành xây dựng tăng 9,62%, đóng góp 8,47%.
– Các hoạt động thương mại, du lịch tăng cao, khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 cao nhất từ trước đến nay, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2025 ước tăng 8,62%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 10,66% của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025. Một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,52% so với năm trước, đóng góp 10,62%; ngành vận tải, kho bãi tăng 10,99%, đóng góp 8,69%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,82%, đóng góp 5,72%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,02%, đóng góp 3,34%.
– Về cơ cấu nền kinh tế năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,64%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%; khu vực dịch vụ chiếm 42,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,96% (Cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 12,03%; 37,52%; 42,35%; 8,10%).
– Về sử dụng GDP năm 2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,95% so với năm 2024; tích lũy tài sản tăng 8,68%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 17,12%.
– Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD). GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD).
– Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 245,0 triệu đồng/lao động (tương đương 9.809 USD/lao động, tăng 626 USD so với năm 2024); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83% do trình độ của người lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 ước đạt 29,2%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024), tăng trưởng kinh tế đạt khá, quy mô nền kinh tế được mở rộng.
2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
a) Xuất nhập khẩu hàng hóa
– Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười Hai đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước và tăng 23,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý IV/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 126,3 tỷ USD, tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,7% so với quý III/2025. Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%.
+ Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2025, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7%.
– Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười Hai đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6% so với tháng trước và tăng 27,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý IV/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 123,1 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,9% so với quý III/2025. Tính chung cả năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỷ USD, giảm 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỷ USD, tăng 31,9%.
+ Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu năm 2025, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,11 tỷ USD, chiếm 93,6%.
– Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 153,2 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 186,0 tỷ USD.
– Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Mười Hai nhập siêu 0,66 tỷ USD. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD (năm trước xuất siêu 24,94 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỷ USD.
b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ
Trong quý IV/2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,26 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 9,0% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 10,55 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,1% so với quý trước.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 30,31 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch), tăng 24,4%; dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 29,0%), tăng 23,6%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2025 ước đạt 40,54 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 14,43 tỷ USD), tăng 14,0% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 17,1 tỷ USD (chiếm 42,1% tổng kim ngạch), tăng 19,9%; dịch vụ du lịch đạt 14,7 tỷ USD (chiếm 36,4%), tăng 15,6%.
Cán cân thương mại dịch vụ năm 2025 nhập siêu 10,23 tỷ USD.
3. Đầu tư
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/12/2025 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0% so với năm trước.
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm 2025 có 173 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,0 tỷ USD, tăng 65,9% so với năm trước; có 32 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh 360,8 triệu USD, gấp hơn 3 lần. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 1.362 triệu USD, tăng 88,7% so với năm trước.
4. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán
– Tính đến thời điểm 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,98% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,15%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 13,68% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 17,65% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,4%).
– Doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm quý IV/2025 ước tính tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm ước đạt 237,2 nghìn tỷ đồng, tăng 4,0% so với năm trước.
– Tính đến ngày 31/12/2025, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 29.328,2 tỷ đồng/phiên, tăng 39,1% so với bình quân năm 2024; giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trái phiếu đạt 15.300 tỷ đồng/phiên, tăng 26,1%; khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh bình quân đạt 243.418 hợp đồng/phiên, tăng 15,2%.
5. Hoạt động dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Mười Hai năm 2025 ước đạt 627,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 1.833,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% so với quý trước và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,9%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024).
Vận tải hành khách quý IV/2025 ước đạt 1.669,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 78,7 tỷ lượt khách.km, tăng 11,5%. Tính chung năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 6.183,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 22,2% so với năm trước và luân chuyển đạt 312,0 tỷ lượt khách.km, tăng 13,6%. Vận tải hàng hóa quý IV/2025 ước đạt 799,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 160,2 tỷ tấn.km, tăng 9,9%. Tính chung năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 3.027,7 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,1% so với năm trước và luân chuyển 612,3 tỷ tấn.km, tăng 13,1%.
Doanh thu hoạt động viễn thông quý IV/2025 ước đạt 96,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, doanh thu hoạt động viễn thông ước đạt 380,0 nghìn tỷ đồng, tăng 6,0% so với năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,8%).
Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Mười Hai đạt hơn 2 triệu lượt người, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 21,2 triệu lượt người, tăng 20,4% so với năm trước; số lượt người Việt Nam xuất cảnh là 6,7 triệu lượt người, tăng 26,4%.
6. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
a) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
– Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười Hai tăng 0,19% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng Mười Hai tăng 3,48%. CPI bình quân quý IV/2025 tăng 3,44% so với quý IV/2024. Tính chung cả năm 2025, CPI tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.
– Chỉ số giá vàng tháng Mười Hai tăng 2,18% so với tháng trước; tăng 70,37% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 47,67%.
– Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Mười Hai tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,92%.
b) Chỉ số giá sản xuất
Chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất; chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa quý IV và năm 2025 đều tăng so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung năm 2025, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,01% so với năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 2,55%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 5,09%; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 4,36%; chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 3,62%; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 1,10%.
7. Khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo
– Đóng góp của hoạt động khoa học và công nghệ trong GDP: Ước tính trong năm 2025, các hoạt động khoa học và công nghệ (KHCN)[7] đóng góp trực tiếp trong GDP khoảng 1,68%; bên cạnh đó hoạt động KHCN còn tác động lan tỏa đến các hoạt động kinh tế khác với đóng góp gián tiếp khoảng 0,81%. Do đó, tổng tác động trực tiếp và gián tiếp của hoạt động khoa học công nghệ chiếm khoảng 2,5% trong GDP (tương đương 320,4 nghìn tỷ đồng), tăng 16,3% so với năm 2024 và tăng khoảng 51% so với năm 2020).
– Về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), theo Báo cáo GII 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế, giữ nguyên thứ hạng như năm 2024. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam vượt Thái Lan, đứng thứ 3, sau Xin-ga-po và Ma-lai-xi-a.
– Về đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam xếp hạng thứ 55/100 toàn cầu. Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt 34,6%, giảm 4,2 điểm phần trăm so với năm 2024.
– Về sở hữu trí tuệ, năm 2025, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp nhận 183.700 đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) tăng 20,4% so với năm 2024; đã xử lý 249.854 đơn đăng ký quyền SHCN, tăng 74,4% so với năm 2024; đã cấp 83.000 văn bằng bảo hộ SHCN, tăng 54,6% so với năm 2024.
– Về dịch vụ công trực tuyến trên cổng dịch vụ công quốc gia, tính đến ngày 30/12/2025, số hồ sơ trực tuyến thực hiện qua cổng dịch vụ công quốc gia là hơn 94.334 nghìn hồ sơ; gần 636.949,8 nghìn hồ sơ đồng bộ trạng thái lên cổng dịch vụ công quốc gia.
– Về năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ hạt nhân, năm 2025 đã cấp 1.333 giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giảm 9,3% so với năm 2024; cấp 38 giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ năng lượng nguyên tử, tăng 65,2%; cấp 1.000 Chứng chỉ nhân viên bức xạ, chứng chỉ hành nghề, giảm 2,0%; ký 25 quyết định phê duyệt kế hoạch ứng phó sự cố, tăng 4,2%.
